NHẠY CẢM ĐẠO ĐỨC CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM, ĐẠI HỌC HUẾ

Phạm Quang Trung - Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế.

| PDF

Nghiên cứu nhằm đánh giá mức độ nhạy cảm đạo đức của sinh viên sư phạm và xem xét sự khác biệt giữa các nhóm ngành đào tạo. Khảo sát được thực hiện trên 375 sinh viên Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế, thuộc ba nhóm ngành: Khoa học tự nhiên, Khoa học xã hội và Khoa học giáo dục. Dữ liệu được thu thập bằng Bảng hỏi tự báo cáo gồm 28 biến quan sát, phản ánh bảy thành tố của nhạy cảm đạo đức. Kết quả cho thấy sinh viên tự đánh giá nhạy cảm đạo đức ở mức cao trên cả bảy thành tố. Phân tích phương sai một yếu tố ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm ngành ở ba thành tố: đọc hiểu và biểu đạt cảm xúc; tiếp nhận quan điểm của người khác; quan tâm thông qua kết nối với người khác. Bốn thành tố còn lại không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê. Kết quả góp phần cung cấp cơ sở thực tiễn cho việc tăng cường giáo dục đạo đức nghề nghiệp, thảo luận tình huống và phản tư sư phạm trong đào tạo giáo viên.

NHU CẦU THAM VẤN TÂM LÝ TRỰC TUYẾN VÀ MỨC ĐỘ SẴN SÀNG SỬ DỤNG CHATBOT AI CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

Trần Thị Quỳnh Trang, Nguyễn Thị Ngọc Huyền, Phí Ngọc Mai, Lê Hoàn Mỹ, Bùi Minh Ánh 
Trường Đại học Giáo dục, ĐHQGHN.

| PDF

Nghiên cứu này nhằm khám phá nhu cầu và mức độ sẵn sàng tham vấn tâm lý trực tuyến của học sinh trung học phổ thông. Nghiên cứu khảo sát bằng bảng hỏi và được phân tích định lượng trên 279 học sinh. Kết quả cho thấy học sinh có nhu cầu tham vấn tâm lý trực tuyến với các vấn đề như áp lực học tập, lo âu/stress và định hướng nghề nghiệp... Hành vi tìm kiếm trợ giúp chủ yếu dựa vào tự giải quyết hoặc bạn bè, trong khi việc tiếp cận dịch vụ tham vấn trực tiếp còn hạn chế do các rào cản tâm lý xã hội. Bên cạnh đó, học sinh thể hiện mức độ sẵn sàng tương đối cao đối với chatbot AI, đặc biệt ở các yếu tố tính miễn phí, tiện lợi, tính ẩn danh và khả năng hỗ trợ điều chỉnh cảm xúc. Nghiên cứu gợi ý tiềm năng chatbot AI như một giải pháp hỗ trợ sức khỏe tâm thần học đường ban đầu, góp phần giảm rào cản tiếp cận dịch vụ và tăng khả năng hỗ trợ sớm cho học sinh trong bối cảnh chuyển đổi số.

THỰC TRẠNG NĂNG LỰC TUYÊN TRUYỀN CỦA CHÍNH TRỊ VIÊN TRONG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM HIỆN NAY

Nguyễn Văn Nhiên - Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng.

| PDF

Bài viết đánh giá thực trạng năng lực tuyên truyền của chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam. Dữ liệu thu thập từ 384 chính trị viên và 162 cán bộ quân sự, hạ sĩ quan, binh sĩ ở 4 đơn vị Quân đội, cho thấy năng lực tuyên truyên của chính trị viên ở mức khá cao (ĐTB = 3,43). Tuy nhiên, có sự không đồng đều giữa các mặt biểu hiện: kiến thức tuyên truyền được đánh giá cao nhất (ĐTB = 3,53), thái độ tuyên truyền (ĐTB = 3,44), thấp nhất là kỹ năng tuyên truyền (ĐTB = 3,32), nghiên cứu tiến hành khái quát, so sánh, phân tích kết quả đánh giá thực trạng năng lực tuyên truyền của chính trị viên theo các biến số đơn vị công tác, thâm niên công tác và giữa hai nhóm khách thể nghiên cứu là chính trị viên và cán bộ quân sự, hạ sĩ quan, binh sĩ.

VẬN DỤNG TRÍ TUỆ NHÂN TẠO TRONG HỖ TRỢ THIẾT KẾ TÌNH HUỐNG DẠY HỌC CÁC HỌC PHẦN TÂM LÝ - GIÁO DỤC HỌC VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ ĐỐI VỚI NHẬN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ HÀNH VI HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM BÀ RỊA - VŨNG TÀU

Trần Thu Hiền - Trường Cao đẳng Sư phạm Bà Rịa - Vũng Tàu.

| PDF

Sự xuất hiện của trí tuệ nhân tạo (Artificial Intelligence - AI) đã tạo ra những cơ hội không giới hạn cho các lĩnh vực. Theo UNESCO (2025a), “AI cũng đã bước vào lĩnh vực giáo dục... Việc ứng dụng AI trong giáo dục đặt ra những câu hỏi sâu sắc - ví dụ về những gì nên được dạy và cách dạy, vai trò phát triển của nhà giáo, và các tác động xã hội cũng như đạo đức của AI” (tr. 5). Bài viết này góp phần trả lời một khía cạnh nhỏ câu hỏi nêu trên - ứng dụng AI trong đổi mới nội dung (những gì được dạy) và phương pháp dạy học (cách dạy). Cụ thể bài viết chỉ ra việc ứng dụng AI trong thiết kế các tình huống dạy học các học phần Tâm lý - Giáo dục học và đánh giá hiệu quả đối với nhận thức, thái độ và hành vi học tập của sinh viên tại Trường Cao đẳng Sư phạm Bà Rịa - Vũng Tàu. Kết quả nghiên cứu của bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu lý thuyết từ các nguồn sách, tạp chí để xây dựng các khái niệm, quy trình và phương pháp khảo sát với 135 sinh viên để tìm hiểu hiệu quả của giải pháp ứng dụng AI trong hỗ trợ thiết kế tình huống và sử dụng tình huống ấy trong dạy học các học phần Tâm lý - Giáo dục học. Kết quả khảo sát cho thấy rằng việc dùng AI thiết kế tình huống đem lại hiệu quả cho người học về nhiều khía cạnh.

THỰC TRẠNG NĂNG LỰC SỬ DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRÍ TUỆ NHÂN TẠO TRONG PHẢN BIỆN TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG CỦA GIẢNG VIÊN Ở CÁC HỌC VIỆN, TRƯỜNG SĨ QUAN QUÂN ĐỘI HIỆN NAY

Lê Văn Tình - Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng.

| PDF

Nghiên cứu tập trung làm rõ thực trạng và các mặt biểu hiện của năng lực sử dụng công nghệ thông tin và trí tuệ nhân tạo trong phản biện trên không gian mạng của giảng viên ở các học viện, trường sĩ quan quân đội. Nội dung được triển khai theo hướng kết hợp định lượng và định tính thông qua điều tra bằng bảng hỏi và phỏng vấn sâu đối với 525 giảng viên và 170 cán bộ quản lý giáo dục. Kết quả cho thấy năng lực sử dụng công nghệ thông tin và trí tuệ nhân tạo trong phản biện trên không gian mạng của giảng viên nhìn chung đạt mức khá và tương đối thống nhất giữa các nhóm đánh giá. Tuy nhiên, các mặt biểu hiện của năng lực chưa đồng đều. Các nội dung liên quan đến nhận thức về vai trò của công nghệ thông tin và trí tuệ nhân tạo, cũng như khả năng tìm kiếm và kiểm chứng thông tin số được đánh giá cao hơn; trong khi đó, kỹ năng vận dụng công cụ số và trí tuệ nhân tạo trong hoạt động phản biện vẫn là mặt có mức biểu hiện thấp hơn. Điều đó cho thấy vẫn tồn tại khoảng cách giữa nhận thức và khả năng vận dụng công nghệ trong hoạt động phản biện trên không gian mạng của giảng viên ở các học viện, trường sĩ quan quân đội hiện nay. Kết quả nghiên cứu góp phần làm rõ cấu trúc và thực trạng biểu hiện của năng lực, đồng thời cung cấp cơ sở khoa học cho việc xây dựng các biện pháp nâng cao năng lực sử dụng công nghệ thông tin và trí tuệ nhân tạo trong hoạt động phản biện trên không gian mạng của giảng viên quân đội.

NHU CẦU SỬ DỤNG TRÍ TUỆ NHÂN TẠO VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở NHÂN SỰ CHUYÊN MÔN TRONG CAN THIỆP CẢM XÚC CHO TRẺ RỐI LOẠN PHỔ TỰ KỶ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Đỗ Thị Dung - Trường Mầm non Long Phước, Đồng Nai.

| PDF

Nghiên cứu này nhằm khảo sát nhu cầu sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) của nhóm nhân sự chuyên môn trong can thiệp cảm xúc cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ tại Thành phố Hồ Chí Minh, đồng thời xác định các yếu tố liên quan nhu cầu này. Thiết kế nghiên cứu cắt ngang được thực hiện với 189 nhóm nhân sự chuyên môn đang làm việc tại các cơ sở can thiệp và giáo dục chuyên biệt. Dữ liệu được thu thập bằng bảng hỏi thang Likert 5 mức và phân tích bằng các phương pháp thống kê mô tả, tương quan Pearson và hồi quy tuyến tính đa biến. Kết quả cho thấy nhu cầu sử dụng AI ở mức cao (ĐTB = 3,88; ĐLC = 0,47). Nhận thức về AI có tương quan thuận với nhu cầu sử dụng (r = 0,446; p < 0,001). Mô hình hồi quy đạt ý nghĩa thống kê, F(5,183) = 9,61; p < 0,001, giải thích 20,8% phương sai (R² = 0,208; R² hiệu chỉnh = 0,186). Nhận thức về AI là biến duy nhất có ý nghĩa dự báo đối với nhu cầu sử dụng (β = 0,444; p < 0,001), trong khi các biến nhân khẩu - nghề nghiệp không có ý nghĩa thống kê. Kết quả nghiên cứu nhấn mạnh vai trò trung tâm của nhận thức công nghệ trong việc hình thành nhu cầu và sự sẵn sàng tích hợp AI vào thực hành can thiệp cảm xúc.

CĂNG THẲNG CỦA SINH VIÊN KHOA CÔNG TÁC XÃ HỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG - XÃ HỘI GIAI ĐOẠN CHUẨN BỊ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

Đỗ Thị An - Trường Đại học Lao động - Xã hội.

| PDF

Nghiên cứu nhằm phân tích thực trạng căng thẳng của sinh viên Khoa Công tác xã hội, Trường Đại học Lao động - Xã hội giai đoạn chuẩn bị nghiên cứu khoa học trên ba phương diện: cảm xúc, thể chất và hành vi. Nghiên cứu sử dụng phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi kết hợp phỏng vấn sâu trên 120 sinh viên. Kết quả cho thấy mức độ căng thẳng của sinh viên nhìn chung ở mức trung bình. Trong đó, lo âu dự báo, hồi hộp và thiếu tự tin là những biểu hiện nổi bật về cảm xúc; mệt mỏi và rối loạn giấc ngủ là những biểu hiện thể chất thường gặp; trong khi xu hướng trì hoãn học thuật và suy giảm tính chủ động là những biểu hiện hành vi đáng chú ý trong giai đoạn chuẩn bị nghiên cứu khoa học.

MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM NHẬN THỨC CỦA NGƯỜI BA NA TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH GIA LAI

Trần Lệ Thanh - Học viện An ninh nhân dân.

| PDF

Nghiên cứu được thực hiện trên 329 người Ba Na tại tỉnh Gia Lai. Kết quả xác định 5 đặc điểm nhận thức cơ bản của người Ba Na, gồm: nhận thức mang tính cộng đồng; nhận thức mang định hướng tự cung, tự cấp trong sản xuất; nhận thức dựa trên kinh nghiệm truyền thống; nhận thức mang yếu tố tâm linh, tín ngưỡng; nhận thức gắn với môi trường tự nhiên. Các đặc điểm này biểu hiện ở mức khá (ĐTB chung = 3,88). Trong đó, nhận thức mang tính cộng đồng và nhận thức mang định hướng tự cung, tự cấp trong sản xuất thể hiện rõ nét nhất. Kết quả cho thấy nhận thức của người Ba Na vẫn đậm dấu ấn văn hóa truyền thống, đồng thời có sự biến đổi nhất định dưới tác động của bối cảnh kinh tế - xã hội hiện nay. Việc nhận diện các đặc điểm nhận thức của người Ba Na góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho việc xây dựng chính sách phát triển kinh tế - xã hội, bảo tồn giá trị văn hóa truyền thống và nâng cao hiệu quả quản lý xã hội tại địa phương.

KỸ NĂNG QUẢN LÝ THỜI GIAN CỦA SINH VIÊN NGÀNH GIÁO DỤC MẦM NON TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN

Nguyễn Phương Thảo - Trường Đại học Sài Gòn.

| PDF

Kỹ năng quản lý thời gian là một trong những năng lực tự quản quan trọng đối với sinh viên trong bối cảnh giáo dục đại học hiện nay. Nghiên cứu này nhằm mô tả thực trạng và phân tích các thành phần của kỹ năng quản lý thời gian của sinh viên ngành Giáo dục mầm non tại Trường Đại học Sài Gòn. Nghiên cứu sử dụng phương pháp khảo sát định lượng trên 486 sinh viên, với dữ liệu được xử lý bằng thống kê mô tả và phân tích hồi quy tuyến tính. Kết quả cho thấy kỹ năng quản lý thời gian của sinh viên đạt mức trung bình (ĐTB = 2,39; ĐLC = 0,64 trên thang 4 điểm). Các thành phần của kỹ năng này đều ở mức trung bình và chưa phát triển đồng đều, trong đó kỹ năng giữ kỷ luật có mức biểu hiện cao hơn, trong khi các kỹ năng liên quan đến tổ chức và điều phối hành vi như lập kế hoạch, thiết lập ưu tiên và cân bằng lối sống có xu hướng thấp hơn. Kết quả phân tích hồi quy cho thấy năm học có mối liên hệ có ý nghĩa thống kê với kỹ năng quản lý thời gian (β = 0,15; p = 0,015), tuy nhiên mức độ giải thích của mô hình còn thấp (R² = 0,023). Điều này cho thấy kỹ năng quản lý thời gian của sinh viên chưa được cải thiện đáng kể theo quá trình học tập và có thể chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác. Nghiên cứu góp phần cung cấp bằng chứng thực nghiệm về kỹ năng quản lý thời gian trong bối cảnh đào tạo cụ thể, đồng thời gợi ý sự cần thiết của các chương trình hỗ trợ nhằm phát triển năng lực tự quản cho sinh viên trong môi trường đại học.

XU HƯỚNG NGHIÊN CỨU VỀ ĐIỀU TIẾT CẢM XÚC TRONG GIÁO DỤC GIAI ĐOẠN 2000 - 2025

Vũ Thúy Hoàn - Khoa Sư phạm, Trường Đại học Thủ đô Hà Nội.

| PDF

Nghiên cứu nhằm phân tích xu hướng phát triển của lĩnh vực điều tiết cảm xúc trong giáo dục giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2025, đồng thời làm rõ cấu trúc tri thức và những chuyển dịch lý thuyết chủ yếu của lĩnh vực. Nghiên cứu sử dụng phương pháp tổng quan hệ thống theo quy trình PRISMA, kết hợp với phân tích thư mục học bằng phần mềm VOSviewer và tổng hợp định tính với sự hỗ trợ của công cụ Elicit. Dữ liệu được truy xuất từ cơ sở dữ liệu học thuật uy tín là Scopus, với các tiêu chí lựa chọn về thời gian công bố, loại hình tài liệu và mức độ phù hợp với bối cảnh giáo dục, gồm 317 bài báo được lựa chọn. Kết quả nghiên cứu cho thấy có bốn hướng nghiên cứu chính về điều tiết cảm xúc, gồm: (1) điều tiết cảm xúc trong giáo dục đại học; (2) điều tiết cảm xúc và sức khỏe tinh thần, khả năng phục hồi; (3) điều tiết cảm xúc và sự phát triển, nhóm trẻ em vị thành niên và gia đình; (4) cơ chế điều tiết cảm xúc, học tập tự điều chỉnh. Nghiên cứu góp phần hệ thống hóa tri thức, nhận diện khoảng trống nghiên cứu, đề xuất định hướng nghiên cứu tiếp theo cho lĩnh vực điều tiết cảm xúc trong giáo dục.

HÀI LÒNG CUỘC SỐNG VÀ GẮN KẾT CÔNG VIỆC CỦA GIÁO VIÊN GIÁO DỤC TRẺ CÓ RỐI LOẠN PHÁT TRIỂN

Trần Thư Hà, Châu Ngọc Du
Trường Đại học Văn Lang; Trường Cao đẳng Điện lực Thành phố Hồ Chí Minh.

| PDF

Giáo dục trẻ có rối loạn phát triển là công việc đặc thù và có nhiều thách thức với giáo viên. Bài viết nhằm tìm hiểu mức độ hài lòng cuộc sống, mức độ gắn kết công việc, mối quan hệ hài lòng cuộc sống và gắn kết công việc của giáo viên giáo dục trẻ tại các trung tâm giáo dục đặc biệt. Nghiên cứu đã sử dụng thang đo Hài lòng cuộc sống, thang đo Gắn kết công việc để đo lường trên 185 khách thể tự nguyện tham gia. Kết quả nghiên cứu là giáo viên hài lòng với cuộc sống ở mức “khá”, gắn kết công việc “tương đối cao”, hài lòng cuộc sống và gắn kết công việc có mối tương quan thuận. Những kết quả này vừa có ý nghĩa về mặt lý luận, vừa có ý nghĩa về mặt thực tiễn trong nghiên cứu.

BIỂU HIỆN CỦA TƯƠNG TÁC GIỮA SINH VIÊN VỚI SINH VIÊN TRONG HỌC TẬP THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ TẠI ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

Phạm Thị Kiệm - Đại học Công nghiệp Hà Nội.

| PDF

Bài viết nghiên cứu mức độ tương tác giữa sinh viên với sinh viên trong học tập theo học chế tín chỉ tại Đại học Công nghiệp Hà Nội. Mức độ tương tác giữa sinh viên với sinh viên trong học tập được xác định thông qua kiểm định độ tin cậy Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA), kiểm định KMO và Bartlett’s. Nghiên cứu tiến hành khảo sát 365 sinh viên tại Đại học Công nghiệp Hà Nội bằng bảng câu hỏi về mức độ tương tác giữa sinh viên với sinh viên trong học tập. Kết quả điều tra cho thấy, không có sự khác biệt ý nghĩa về mặt thống kê của sự lựa chọn của nam, nữ sinh viên; có sự khác biệt ý nghĩa về mặt thống kê của mức độ biểu hiện các năm học và các khối ngành. Trong đó, sinh viên năm thứ ba và sinh viên khối ngành xã hội có kết quả mức độ biểu hiện cao nhất.

CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NĂNG LỰC ĐỊNH HƯỚNG DƯ LUẬN TẬP THỂ QUÂN NHÂN CỦA CHÍNH TRỊ VIÊN Ở ĐƠN VỊ CƠ SỞ

Nguyễn Xuân Khải - Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng.

| PDF

Nghiên cứu khảo sát 568 khách thể tại 6 Sư đoàn, Lữ đoàn nhằm đánh giá thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực định hướng dư luận tập thể quân nhân của chính trị viên. Kết quả cho thấy nhóm yếu tố chủ quan và khách quan đều tác động mạnh mẽ đến năng lực này. Trong đó, mô hình hồi quy đa biến xác định “Uy tín của chính trị viên” (hệ số Beta đã chuẩn hóa β = 0,462) và “Kinh nghiệm, trải nghiệm” (β = 0,334) là những nhân tố chi phối mang tính quyết định. Đáng chú ý, yếu tố “Tác động của truyền thông” bộc lộ tác động nghịch biến trong mô hình tổng thể (hệ số β = -0,219), cảnh báo áp lực từ sự bùng nổ thông tin đối với hiệu quả định hướng dư luận. Đây là cơ sở thực chứng để các đơn vị ưu tiên bồi dưỡng, nâng cao uy tín, kinh nghiệm thực tiễn của chính trị viên gắn với việc kiểm soát các tác động truyền thông, nhằm nâng cao chất lượng công tác tư tưởng tại đơn vị cơ sở hiện nay.

MỐI QUAN HỆ GIỮA HÀNH VI SỬ DỤNG VIDEO NGẮN CÓ VẤN ĐỀ, SỰ CHÚ Ý CÓ CHỦ ĐÍCH, TÍNH TẬN TÂM VÀ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Hữu Long¹*, Nguyễn Hiếu Văn², Bùi Thanh Hoàng³
¹Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh; ²Trường Đại học Văn Lang; ³Học viên cao học, Trường Đại học Văn Hiến.

| PDF

Nghiên cứu kiểm định tác động của hành vi sử dụng video ngắn có vấn đề (PSVU) đến kết quả học tập (GPA) của sinh viên, với vai trò trung gian của chú ý có chủ định và sự điều tiết của tính tận tâm. Dữ liệu khảo sát từ 116 sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh được phân tích bằng mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM). Kết quả cho thấy PSVU không làm suy giảm đáng kể chú ý có chủ định. Hơn nữa, chú ý có chủ định không làm trung gian tác động đến GPA; và tính tận tâm là yếu tố dự báo độc lập bền vững thay vì đóng vai trò điều tiết. Kết quả này gợi ý rằng các yếu tố cá nhân, đặc biệt là tính tận tâm, có thể đóng vai trò quan trọng hơn đối với kết quả học tập so với mức độ sử dụng video ngắn có vấn đề. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các cơ sở giáo dục chú trọng phát triển năng lực tự quản lý và trách nhiệm học tập của sinh viên, đồng thời cần có thêm các nghiên cứu với mẫu lớn hơn để kiểm định các cơ chế tâm lý liên quan.

MỐI LIÊN HỆ GIỮA KHÓ KHĂN TRONG ĐIỀU TIẾT CẢM XÚC VÀ TRÌ HOÃN HỌC TẬP: VAI TRÒ TRUNG GIAN CỦA VỐN TÂM LÝ

Nguyễn Trần Mỹ Ý, Phạm Tất Đạt, Nguyễn Huỳnh Ngọc Ánh Như, Lê Bảo Toàn, Lê Nguyễn Sơn Tùng
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.

| PDF

Nghiên cứu cắt ngang được khảo sát từ 461 sinh viên Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh nhằm xem xét vai trò của khó khăn trong điều tiết cảm xúc và vốn tâm lý đối với trì hoãn học tập. Kết quả phân tích mô hình trung gian cho thấy vốn tâm lý đóng vai trò trung gian bán phần: khó khăn trong điều tiết cảm xúc có mối liên hệ với trì hoãn học tập cả trực tiếp lẫn gián tiếp, trong đó vốn tâm lý đóng vai trò trung gian trong mối liên hệ này. Phát hiện này cho thấy tầm quan trọng của việc bồi dưỡng vốn tâm lý và khả năng điều tiết cảm xúc có thể góp phần dự báo sự giảm thiểu tình trạng trì hoãn học tập ở sinh viên.

THÍCH ỨNG VÀ KIỂM ĐỊNH THANG ĐO ECR-S TẠI VIỆT NAM: SỰ CHUYỂN DỊCH TỪ CẤU TRÚC GẮN BÓ LO ÂU - NÉ TRÁNH SANG AN TOÀN - KHÔNG AN TOÀN

Quang Thị Mộng Chi - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.

| PDF

Nghiên cứu này nhằm thích ứng xuyên văn hoá và kiểm định thang đo Experiences in Close Relationships - Short Form (ECR-S) trên mẫu 605 người trưởng thành Việt Nam đang trong mối quan hệ yêu đương hoặc hôn nhân tại Thành phố Hồ Chí Minh. Dữ liệu được phân tích bằng Cronbach’s alpha, phân tích nhân tố khám phá và phân tích nhân tố khẳng định. Kết quả cho thấy cấu trúc gốc gồm hai chiều gắn bó lo âu và né tránh không được tái lập mà được tái cấu trúc thành phiên bản 9 mục với hai nhân tố: gắn bó an toàn và gắn bó không an toàn. Mô hình đo lường đạt mức phù hợp chấp nhận được với dữ liệu (CFI = 0,954; TLI = 0,925; RMSEA = 0,080), đồng thời độ tin cậy và giá trị hội tụ ở mức chấp nhận được. Kết quả nghiên cứu cung cấp một công cụ đo lường phù hợp cho nghiên cứu và thực hành tham vấn về gắn bó ở người trưởng thành Việt Nam.

TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ LO ÂU TRẠNG THÁI Ở NGƯỜI NHÀ CHĂM SÓC BỆNH NHÂN MẮC BỆNH MẠN TÍNH

Lâm Văn Minh¹,², Vũ Thị Khánh Linh¹
¹Trường Đại học Sư phạm Hà Nội; ²Bệnh viện Chợ Rẫy.

| PDF

Trong bối cảnh già hóa dân số và gia tăng các bệnh mạn tính, người nhà chăm sóc bệnh nhân ngày càng giữ vai trò quan trọng trong hỗ trợ điều trị và chăm sóc lâu dài cho người bệnh. Tuy nhiên, quá trình chăm sóc kéo dài trong điều kiện bất định cũng khiến họ dễ xuất hiện các phản ứng tâm lý tiêu cực, trong đó lo âu là hiện tượng phổ biến. Bài viết này thực hiện tổng quan tường thuật nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận và các bằng chứng thực chứng về lo âu trạng thái ở người nhà chăm sóc bệnh nhân mắc bệnh mạn tính. Tài liệu được tìm kiếm trên PubMed và Google Scholar trong giai đoạn 2016 - 2026; đồng thời, một số tài liệu nền tảng trước năm 2016 được sử dụng bổ sung để làm rõ khái niệm và cơ sở lý thuyết. Tổng cộng có 23 tài liệu đủ điều kiện được đưa vào phân tích, tổng hợp theo các chủ đề: khái niệm lo âu trạng thái, bối cảnh hình thành lo âu ở người chăm sóc, biểu hiện chủ yếu, các yếu tố liên quan và khung lý thuyết giải thích. Kết quả cho thấy lo âu trạng thái ở người nhà chăm sóc là phản ứng cảm xúc mang tính tình huống, xuất hiện khi cá nhân đánh giá hoàn cảnh chăm sóc là đe dọa hoặc vượt quá nguồn lực ứng phó của bản thân. Trạng thái này biểu hiện trên ba phương diện chính: sinh lý, nhận thức - cảm xúc và hành vi. Các yếu tố thường liên quan đến mức độ lo âu gồm gánh nặng chăm sóc chủ quan, thời gian chăm sóc, hỗ trợ xã hội và niềm tin vào khả năng của bản thân. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất tiếp cận lo âu ở người nhà chăm sóc như một trạng thái tâm lý dao động theo bối cảnh chăm sóc, cần được sàng lọc sớm và hỗ trợ phù hợp trong thực hành lâm sàng.

VẬN DỤNG MÔ HÌNH SINH - TÂM - XÃ HỘI TRONG NGHIÊN CỨU TRẦM CẢM Ở NGƯỜI CAO TUỔI: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU TẠI VIỆT NAM

Cao Trần Lê Phương¹, Tạ Thị Đào², Võ Thị Thúy Hà³ 
¹Viện Nghiên cứu Xã hội Quốc tế (ISS), Đại học Erasmus Rotterdam, Hà Lan; ²Cơ sở Hỗ trợ Giáo dục xã hội Thành Nhân, Thành phố Hồ Chí Minh;

| PDF

Trầm cảm là vấn đề sức khỏe tâm lý phổ biến ở người cao tuổi. Tuy nhiên, tại Việt Nam, nhiều nghiên cứu vẫn chủ yếu mô tả tỷ lệ hiện mắc hoặc nhấn mạnh các yếu tố y sinh học, trong khi các yếu tố tâm lý và xã hội chưa được tích hợp hệ thống. Bài viết sử dụng tổng quan lý thuyết - tường thuật để phân tích cơ sở lý luận của mô hình sinh - tâm - xã hội (BPS), tổng hợp chọn lọc bằng chứng quốc tế và trong nước, và luận giải sự phù hợp của khung BPS đối với bối cảnh Việt Nam. Kết quả cho thấy BPS cần được bối cảnh hóa khi áp dụng ở Việt Nam. Bài viết đề xuất ba điều chỉnh: bổ sung biến khoảng cách kỳ vọng - thực tế hỗ trợ gia đình như một biến trung gian trong nhóm tâm lý, tách tôn giáo - tín ngưỡng thành yếu tố xã hội độc lập, và đưa kỳ thị tâm lý nội tâm hóa vào như một biến điều tiết. Khung đề xuất không chỉ mở rộng danh mục biến số mà còn làm rõ cấu trúc tác động của biến trung gian và biến điều tiết, định hướng lựa chọn biến số và thiết kế nghiên cứu thực nghiệm về trầm cảm ở người cao tuổi tại Việt Nam.

CÁC KIỂU CẤU TRÚC CỐ KẾT NHÓM TRONG HỌC TẬP: TIẾP CẬN PHÂN TÍCH CỤM TRÊN SINH VIÊN BÁO CHÍ - TRUYỀN THÔNG

Lý Thị Minh Hằng - Học viện Báo chí và Tuyên truyền.

| PDF

Nghiên cứu xác định các kiểu cấu trúc cố kết nhóm trong học tập hợp tác của sinh viên Báo chí - Truyền thông theo tiếp cận đa chiều và cấu hình. Dữ liệu từ 286 sinh viên tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền được phân tích bằng phương pháp phân cụm K-means trên ba thành tố: cố kết nhận thức, cố kết cảm xúc, cố kết hành vi. Kết quả xác định được ba kiểu cấu trúc: cấu trúc cố kết tích hợp (mức cao, liên kết chặt chẽ giữa các thành tố), cấu trúc cố kết phân tách theo chức năng (mức khá, trong đó cố kết cảm xúc thấp hơn nhận thức và hành vi), cố kết suy giảm (mức thấp hơn tương đối so với hai cụm còn lại). Phân tích tương quan trong từng cụm cho thấy trong Cụm 2, các thành tố có mối liên hệ thuận có ý nghĩa thống kê. Nghiên cứu cung cấp bằng chứng ban đầu cho việc vận dụng tiếp cận cấu hình trong nghiên cứu cố kết nhóm học tập. Hạn chế gồm sử dụng mẫu thuận tiện và chưa kiểm định mối liên hệ giữa kiểu cấu trúc với kết quả học tập.

KHÓ KHĂN TRONG HỌC TẬP VÀ NĂNG LỰC VƯỢT KHÓ CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ

Nguyễn Thị Hải Thiện, Chu Việt Hà, Nguyễn Quang Anh - Trường Khoa học Giáo dục, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.

| PDF

Nhận diện khó khăn trong học tập và năng lực vượt khó của học sinh phổ thông có ý nghĩa quan trọng đối với công tác tâm lý học đường. Nghiên cứu khảo sát thực trạng khó khăn trong học tập và năng lực vượt khó của 397 học sinh trung học cơ sở tại phường Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội. Số liệu được thu thập bằng hai bộ công cụ tự báo cáo: thang đo khó khăn trong hoạt động học tập (α = 0,91) và thang đo Năng lực vượt khó gồm bốn tiểu thang (α = 0,96), đảm bảo độ tin cậy cao. Kết quả cho thấy khó khăn về khối lượng học tập và áp lực từ môi trường là hai nhóm khó khăn nổi bật nhất. Năng lực vượt khó của học sinh ở mức trung bình và có tương quan nghịch có ý nghĩa thống kê với tất cả các loại khó khăn trong học tập. Kết quả được thảo luận theo khung lý thuyết Chỉ số vượt khó (Stoltz, 2000) và thuyết Tự quyết (Deci và Ryan, 1985).

KHẢ NĂNG PHỤC HỒI CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG SAU ÁP LỰC CÔNG VIỆC TẠI MỘT SỐ KHU CÔNG NGHIỆP Ở HÀ NỘI

Nguyễn Phúc Lộc, Hoàng Nhật, Nguyễn Thị Phương Hoa, Đặng Thị Hoa - Viện Xã hội học và Tâm lý học.

| PDF

Bài báo khảo sát khả năng phục hồi của 429 công nhân tại các khu công nghiệp Thăng Long và khu công nghiệp Quang Minh (Hà Nội) trong bối cảnh công việc nhiều áp lực và biến động. Dữ liệu được thu thập cuối tháng 10 và đầu tháng 11 năm 2025. Dựa trên mô hình yêu cầu công việc - nguồn lực công việc, nghiên cứu xem khả năng phục hồi là nguồn lực cá nhân giúp người lao động thích ứng với khó khăn nghề nghiệp. Tiểu thang đo “khả năng phục hồi” của bảng hỏi Vốn tâm lý dành cho công nhân do nhóm nghiên cứu xây dựng được sử dụng và sau khi hiệu chỉnh còn 5 mục với độ tin cậy cao. Kết quả cho thấy công nhân có mức phục hồi khá cao, nổi bật ở khả năng vượt qua khó khăn và giữ bình tĩnh trước căng thẳng, nhưng còn hạn chế ở niềm tin vào khả năng xử lý đa nhiệm. Không có khác biệt đáng kể theo giới tính, dân tộc, tình trạng di cư hay thâm niên; trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân và thu nhập tạo ra sự khác biệt. Nghiên cứu đề xuất tăng cường các chương trình nghiên cứu phát triển vốn tâm lý, đặc biệt là tăng cường khả năng phục hồi cho người lao động.

KIỆT SỨC NGHỀ NGHIỆP Ở GIÁO VIÊN TIỂU HỌC: THỰC TRẠNG VÀ SỰ KHÁC BIỆT THEO MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM NGHỀ NGHIỆP

Nguyễn Thị Mai Lan - Học viện Khoa học xã hội.

| PDF

Nghiên cứu nhằm khảo sát thực trạng kiệt sức nghề nghiệp ở giáo viên tiểu học và xem xét sự khác biệt theo một số đặc điểm nghề nghiệp. Khảo sát được thực hiện trên 150 giáo viên tiểu học tại thành phố Hà Nội năm 2026 bằng thang đo kiệt sức nghề nghiệp dành cho giáo viên được điều chỉnh trên cơ sở tiếp cận ba thành phần của Maslach Burnout Inventory - Educators Survey. Dữ liệu được xử lý bằng thống kê mô tả, kiểm định độ tin cậy Cronbach’s Alpha, phân tích tương quan Pearson và phân tích phương sai một yếu tố. Kết quả cho thấy kiệt sức cảm xúc là thành phần biểu hiện nổi bật nhất, đạt mức trung bình (ĐTB = 2,51), thái độ xa cách trong quan hệ với học sinh ở mức thấp (ĐTB = 1,69), trong khi cảm nhận thành tựu nghề nghiệp ở mức cao (ĐTB = 4,33). Kiệt sức cảm xúc có tương quan thuận mạnh với thái độ xa cách trong quan hệ với học sinh (r = 0,675; p < 0,001); thái độ xa cách trong quan hệ với học sinh có tương quan nghịch với cảm nhận thành tựu nghề nghiệp (r = -0,451; p < 0,001). Kết quả cũng cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về kiệt sức cảm xúc theo thâm niên giảng dạy và tình trạng việc làm. Nghiên cứu cung cấp thêm bằng chứng thực tiễn cho việc nhận diện, phòng ngừa và hỗ trợ sức khỏe tâm lý nghề nghiệp cho giáo viên tiểu học.