Nguyễn Năm Lượng, Nguyễn Lâm Ánh Dương, Phạm Anh Đức - Trường Đại học Sài Gòn
https://doi.org/10.66270/vap26.v14.n2.21
Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp, kết hợp khảo sát định lượng đối với 30 giáo viên với phỏng vấn sâu và phỏng vấn chuyên gia nhằm phân tích thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng kết quả sàng lọc sức khỏe tinh thần học sinh trung học phổ thông. Kết quả cho thấy mức độ sử dụng hiện nay chỉ ở mức trung bình, dù giáo viên đã chủ động phân loại học sinh theo mức độ nguy cơ. Tuy nhiên, việc tích hợp kết quả vào hoạt động giáo dục và hỗ trợ còn gặp nhiều khó khăn, chủ yếu do hạn chế về năng lực chuyên môn tâm lý. Ngoài ra, các yếu tố bên ngoài như thiếu hệ thống phần mềm quản lý đồng bộ, chế độ đãi ngộ chưa phù hợp và sự hợp tác hạn chế từ phụ huynh cũng làm giảm hiệu quả can thiệp sau sàng lọc. Phân tích tương quan chỉ ra rằng các yếu tố bên trong của giáo viên có mối liên hệ thuận chặt chẽ với mức độ sử dụng kết quả sàng lọc.Từ đó, nghiên cứu đề xuất cần chuyển trọng tâm từ nâng cao nhận thức sang phát triển năng lực thực hành cho giáo viên, đồng thời xây dựng mô hình quản lý sức khỏe tinh thần theo hướng tăng cường số hóa dữ liệu và đẩy mạnh phối hợp liên ngành nhằm nâng cao hiệu quả chăm sóc sức khỏe tinh thần học đường.
Lò Thị Vân - Trường Đại học Tây Bắc
https://doi.org/10.66270/vap26.v14.n2.20
Bài viết đề cập đến thực trạng khó khăn trong hoạt động học tập của sinh viên người dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc trên ba bình diện: học lí thuyết trên lớp, tự học và thực hành,thực tập. Nghiên cứu được thực hiện trên 288 sinh viên người dân tộc thiểu số tại Trường Đại học Tây Bắc bằng phương pháp khảo sát bảng hỏi kết hợp phỏng vấn sâu. Kết quả cho thấy mức độ khó khăn chung ở mức trung bình; trong đó khó khăn khi học lí thuyết trên lớp ở mức thấp, khó khăn trong tự học ở mức trung bình và khó khăn trong thực hành, thực tập ở mức rất cao. Các khó khăn nổi bật tập trung vào rào cản tâm lí giao tiếp học thuật (thiếu tự tin khi trao đổi với giảng viên), hạn chế trong việc liên hệ kiến thức với bối cảnh địa phương, áp lực kinh tế, gia đình làm suy giảm khả năng tập trung tự học, cùng với trở ngại lớn khi vận dụng lí thuyết vào thực tiễn, giao tiếp với người lạ và chi phí, khoảng cách khi tham gia thực tế. Kết quả tương quan và hồi quy cho thấy các yếu tố động cơ, phương pháp, sự tự tin và đặc biệt là sự hỗ trợ từ môi trường trong và ngoài nhà trường có mối liên hệ nghịch có ý nghĩa thống kê với khó khăn học tập, trong đó yếu tố hỗ trợ môi trường là nhóm dự báo quan trọng.
Khuất Thị Hoa - Trường Đại học FPT
Trần Thị Lệ Thu - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
https://doi.org/10.66270/vap26.v14.n2.19
Nghiên cứu khảo sát và phân tích thực trạng kỹ năng sống trên mẫu 486 sinh viên năm ba đại học tại hai cơ sở đào tạo công lập và tư thục. Kết quả cho thấy nhìn chung kỹ năng sống ở sinh viên đạt mức trung bình, có sự khác biệt giữa các nhóm kỹ năng. Các nhóm kỹ năng tự nhận thức bản thân, giao tiếp và chăm sóc sức khỏe có xu hướng cao hơn so với các nhóm kỹ năng quản lý thời gian và kỹ năng học tập ở sinh viên. Ngoài ra, kỹ năng sống ở sinh viên không có sự thay đổi đáng kể theo loại hình trường và ngành học, giới tính, trong khi một số sự khác biệt xuất hiện theo kết quả học tập. Dựa trên kết quả nghiên cứu đã đề xuất một số khuyến nghị về xây dựng và triển khai chương trình phát triển kỹ năng sống dành cho sinh viên trong bối cảnh giáo dục đại học hiện nay.
Trịnh Thế Dương, Trần Thị Mai Hương, Phạm Tiến Nam - Trường Đại học Y tế công cộng
https://doi.org/10.66270/vap26.v14.n2.18
Dịch vụ công tác xã hội có vai trò quan trọng trong hỗ trợ người bệnh nội trú. Nghiên cứu tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 năm 2024 nhằm mô tả nhu cầu về dịch vụ công tác xã hội và các yếu tố ảnh hưởng, sử dụng phương pháp định lượng kết hợp định tính. Kết quả cho thấy nhu cầu về dịch vụ công tác xã hội tập trung ở bốn nhóm chính. Trong nhóm hỗ trợ thông tin, tư vấn và hướng dẫn, nhu cầu cao nhất là hỗ trợ thủ tục chuyển cơ sở điều trị/xuất viện (58,9%). Ở nhóm truyền thông giáo dục sức khỏe, nội dung được quan tâm nhiều nhất là các quy định khám chữa bệnh (68,5%). Trong nhóm hỗ trợ tâm lý - xã hội, tư vấn, tham vấn tâm lý chiếm tỷ lệ cao (64,9%). Nhu cầu hỗ trợ kết nối con người chiếm tỷ lệ cao nhất trong nhóm nhu cầu kết nối nguồn lực và hỗ trợ viện phí (78,0%). Nghiên cứu cũng xác định một số yếu tố liên quan qua đó giúp nâng cao chất lượng dịch vụ công tác xã hội tại Bệnh viện trong thời gian tới.
Phạm Thị Thu Hòa, Nguyễn Thị Hà Lan, Dương Thị Thoan, Lê Tuyết Mai - Trường Đại học Hồng Đức
https://doi.org/10.66270/vap26.v14.n2.17
Nghiên cứu sử dụng phương pháp điều tra bảng hỏi với 225 phụ huynh về hoạt động tư vấn học đường ở các trường trung học cơ sở phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa cho thấy: cha mẹ học sinh đã có nhận thức tương đối tốt về tầm quan trọng của hoạt động tư vấn học đường, đặc biệt là vai trò trực tiếp đối với sự phát triển toàn diện của con em. Họ đánh giá cao tác động của tư vấn học đường trong việc hỗ trợ học sinh vượt qua khó khăn tâm lý, giảm áp lực học tập và hình thành nhân cách. Tuy nhiên, nhận thức của họ về vai trò đối với nhà trường, bản thân phụ huynh và đặc biệt là xã hội vẫn còn hạn chế, chủ yếu do họ tập trung vào lợi ích trước mắt của con em mình hơn là tác động gián tiếp, lâu dài. Việc đi sâu tìm hiểu thực trạng nhận thức của cha mẹ học sinh về hoạt động tư vấn học đường ở các trường trung học cơ sở phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa giúp họ chủ động tìm hiểu, hợp tác với nhà trường trong các hoạt động tư vấn học đường; quan tâm đến sự phát triển tinh thần và kỹ năng sống của con bên cạnh tri thức.
Dương Nguyễn Thiện Thanh, Minh Thị Lâm - Trường Đại học Sài Gòn
https://doi.org/10.66270/vap26.v14.n2.16
Nghiên cứu nhằm tìm hiểu các yếu tố liên quan đến chất lượng giấc ngủ của người bệnh nội trú tại Bệnh viện Y học cổ truyền Thành phố Hồ Chí Minh. Nghiên cứu được thực hiện trên 58 người bệnh nội trú tại các khoa Cơ xương khớp, Nội thần kinh, Ngoại phụ, Nội lão, Nội tổng hợp và Tim mạch cấp cứu bằng phương pháp chọn mẫu thuận tiện. Chất lượng giấc ngủ được đánh giá bằng thang đo PSQI; các yếu tố ảnh hưởng được phân tích lần lượt trong cácđiều kiện về môi trường, sinh lý và tâm lý. Kết quả cho thấy đau do bệnh lý, hoạt động chăm sóc của nhân viên y tế, tiếng ồn, thiếu sự riêng tư, lo lắng về bệnh tật, chi phí điều trị và gia đình là những yếu tố được người bệnh ghi nhận có sự gắn bó mật thiết đến giấc ngủ của họ. Phân tích tương quan ghi nhận các yếu tố môi trường, sinh lý và tâm lý đều có mối liên hệ mật thiết với chất lượng giấc ngủ. Tuy nhiên, trong mô hình hồi quy đa biến, chỉ yếu tố môi trường có ý nghĩa thống kê. Kết quả gợi ý cần chú trọng cải thiện môi trường ngủ trong bệnh viện, đồng thời quan tâm kiểm soát đau và đồng hành về mặt tâm lý với người bệnh nội trú.
Nguyễn Ngọc Quỳnh Dao - Trường Đại học Sài Gòn
https://doi.org/10.66270/vap26.v14.n2.15
Nghiên cứu nhằm khảo sát thực trạng tính tích cực giao tiếp của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi trong trò chơi đóng vai theo chủ đề. Nghiên cứu sử dụng phương pháp quan sát có cấu trúc trên 30 trẻ tại một cơ sở giáo dục mầm non ở Thành phố Hồ Chí Minh. Tính tích cực giao tiếp của trẻ được xem xét theo ba tiêu chí: nhu cầu giao tiếp, sự chủ động trong giao tiếp và sự thích ứng, hòa nhập với nhóm bạn cùng chơi; đồng thời được quan sát ở ba thời điểm của quá trình chơi: trước khi chơi, trong khi chơi và sau khi chơi. Kết quả cho thấy tính tích cực giao tiếp của trẻ có điểm trung bình chung là 1,17 điểm trên thang 3 mức, thuộc mức thấp. Trong ba tiêu chí, sự chủ động trong giao tiếp có điểm trung bình cao hơn tương đối, tiếp đến là nhu cầu giao tiếp, thấp nhất là sự thích ứng và hòa nhập với nhóm bạn cùng chơi. Xét theo trò chơi, trò chơi Quán ăn có điểm trung bình cao hơn so với trò chơi Bác sĩ và trò chơi Siêu thị. Kết quả nghiên cứu gợi ý rằng giáo viên mầm non cần tổ chức các tình huống chơi giàu tương tác hơn, hỗ trợ trẻ thỏa thuận vai chơi, chủ động trao đổi và duy trì sự hòa nhập với nhóm bạn trong quá trình chơi.
Mai Hiền Lê - Trường Đại học Luật, Thành phố Hồ Chí Minh
https://doi.org/10.66270/vap26.v14.n2.14
Nghiên cứu này nhằm đánh giá biểu hiện năng lực thiết kế kế hoạch tổ chức hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp theo chủ đề của giáo viên trung học cơ sở trong bối cảnh triển khai Chương trình giáo dục phổ thông 2018. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích sản phẩm kết hợp thống kê định lượng để đo lường các thành phần năng lực, bao gồm: xác định chủ đề, mục tiêu, thiết kế nội dung, chuỗi hoạt động và kiểm tra - đánh giá. Kết quả nghiên cứu cho thấy năng lực thiết kế kế hoạch của giáo viên đạt mức khá, tuy nhiên chưa đồng đều giữa các thành phần. Trong đó, năng lực thiết kế chuỗi hoạt động và năng lực kiểm tra - đánh giá còn ở mức trung bình và còn nhiều tồn tại như thiếu tính hệ thống, chưa đảm bảo sự liên kết giữa mục tiêu và hoạt động, cũng như chưa xây dựng được công cụ đánh giá phù hợp. Nghiên cứu đồng thời chỉ ra các nguyên nhân chủ yếu như hạn chế về kiến thức lý luận, kỹ năng thiết kế và sự phụ thuộc vào tài liệu có sẵn. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các biện pháp phát triển năng lực theo hướng tiếp cận hệ thống và thực tiễn, góp phần nâng cao chất lượng tổ chức hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp cho giáo viên trung học cơ sở.
Lê Huỳnh Tiệp, Đặng Văn Hoàng - Học viện Chính trị
https://doi.org/10.66270/vap26.v14.n2.13
Bài viết này tập trung vào việc phân tích và chỉ ra sự khác biệt về kỹ năng nhận biết đối tượng thuyết phục của 202 học viên đào tạo chính ủy trung, lữ đoàn và 30 cán bộ quản lý, giảng viên ở Học viện Chính trị hiện nay. Kết quả nghiên cứu cho thấy, không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa điểm tự đánh giá của học viên và điểm đánh giá của cán bộ quản lý và giảng viên về kỹ năng này. Phân tích sâu các biểu hiện cụ thể cho thấy kỹ năng nhận biết đối tượng thuyết phục ở mức khá. Tuy nhiên, mức độ biểu hiện của các thành phần kỹ năng không đồng đều. Sự không đồng đều này có thể liên quan đến nhận thức, thái độ và mức độ trải nghiệm thực tiễn của học viên trong hoạt động thuyết phục. Từ kết quả nghiên cứu, bài viết đề xuất một số biện pháp tâm lý nhằm hỗ trợ học viên rèn luyện kỹ năng nhận biết đối tượng thuyết phục, góp phần nâng cao hiệu quả lãnh đạo, quản lý trong thực tiễn công tác sau này.
Lê Đức Việt, Trần Việt Hoàng, Trần Ngọc Ánh, Nguyễn Thị Anh Thư - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
https://doi.org/10.66270/vap26.v14.n2.12
Nghiên cứu này tập trung khám phá cấu trúc nhân tố và kiểm định sơ bộ đặc tính tâm trắc của thang đo Tư tưởng Nam tính Đa văn hóa (Multicultural Masculinity Ideology Scale - MMIS) (Doss & Hopkins, 1998) trong bối cảnh văn hóa Việt Nam. Dữ liệu từ 180 nam giới Việt Nam được phân tích bằng phương pháp phân tích thành phần chính (PCA) với phép quay Direct Oblimin. Kết quả cho thấy MMIS hình thành cấu trúc ba nhân tố, giữ lại 24/35 biến quan sát và giải thích 33,24% phương sai. Ba nhân tố này lần lượt được đặt tên là Bản lĩnh, Phô diễn nam tính và Nam tính chừng mực. Trong đó, Bản lĩnh là nhân tố rõ ràng và ổn định nhất, cho thấy độ tin cậy tốt và bằng chứng hội tụ có ý nghĩa. Phô diễn nam tính đạt mức chấp nhận được, trong khi Nam tính chừng mực cho thấy độ tin cậy và giá trị hội tụ còn hạn chế. Nhìn chung, kết quả bước đầu cho thấy MMIS có tiềm năng trở thành một công cụ hữu ích trong nghiên cứu về tư tưởng nam tính ở Việt Nam, đồng thời cũng gợi ý rằng một số chiều cạnh của nam tính mang tính đặc thù văn hóa và chưa thực sự ổn định về mặt đo lường. Sau cùng, nghiên cứu thảo luận về một số giới hạn và đề xuất định hướng phát triển cho các nghiên cứu tương lai.
Đặng Thị Vân, Nguyễn Tùng Dương, Nguyễn Thị Mai Hương, Đỗ Trần Việt Hà -Trường Đại học Luật Hà Nội
https://doi.org/10.66270/vap26.v14.n2.11
Kết quả nghiên cứu thực tiễn kỹ năng ứng phó đối với các hành vi lừa đảo sử dụng công nghệ Deepfake của 212 sinh viên đang học tập ở một số trường đại học trên địa bàn Hà Nội cho thấy kỹ năng ứng phó của sinh viên đạt mức khá cao. Trong bốn kỹ năng thành phần thì kỹ năng nhận diện bản chất của hành vi lừa đảo sử dụng công nghệ này thể hiện nổi bật, rõ nét hơn. Kỹ năng nhận diện nguyên nhân của hành vi lừa đảo này thể hiện mờ nhạt hơn. Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa sinh viên nam và nữ, giữa các khoá học và giữa sinh viên ngành Luật với các chuyên ngành khác. Sinh viên cần được phổ biến kiến thức pháp luật, an ninh mạng, nhận diện tốt nguyên nhân và hiểu rõ quy trình kiểm chứng thông tin tài chính để phòng ngừa hiệu quả hành vi lừa đảo sử dụng công nghệ Deepfake.
Vũ Hà Linh - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
https://doi.org/10.66270/vap26.v14.n2.10
Trên thế giới, lòng hiếu thảo là một trong các chủ đề được nghiên cứu rộng rãi và thường đặt trong bối cảnh văn hóa cộng đồng. Tuy nhiên, có ít nghiên cứu xem xét về mối liên hệ giữa lòng hiếu thảo và bản sắc cá nhân ở người trưởng thành trẻ tuổi. Nghiên cứu này nhằm (1) khám phá mối liên hệ giữa hiếu thảo và bản sắc cá nhân và (2) kiểm định vai trò trung gian của cảm nhận hạnh phúc. Mẫu nghiên cứu gồm 226 người trẻ (38,7% nam, 61,3% nữ) trong độ tuổi từ 18 đến 25 tuổi. Người tham gia đã hoàn thành các thang đo về hiếu thảo, bản sắc cá nhân và cảm nhận hạnh phúc. Kết quả nghiên cứu cho thấy, cảm nhận hạnh phúc đóng vai trò trung gian toàn phần trong mối liên hệ giữa hiếu thảo tương hỗ và bản sắc tư tưởng đạt được. Kết quả cũng chỉ ra, hiếu thảo chuyên quyền có mối liên hệ thuận chiều với bản sắc được trao cho, bản sắc tạm hoãn và bản sắc mơ hồ trên hai miền tư tưởng và mối quan hệ.
Phạm Quốc Dương - Trường Đại học Văn Hiến
https://doi.org/10.66270/vap26.v14.n2.9
Ý định tạm ngưng sử dụng mạng xã hội (digital detox intention) ở người trưởng thành trẻ có thể được xem như một phản ứng tâm lý – hành vi nhằm giảm áp lực từ môi trường số. Tuy nhiên, cơ chế tâm lý nền tảng của ý định này vẫn chưa được làm rõ. Dựa trên khung Stressor-Strain-Outcome (SSO), nghiên cứu kiểm định vai trò trung gian của mệt mỏi mạng xã hội trong mối liên hệ giữa căng thẳng công nghệ và ý định tạm ngưng sử dụng. Dữ liệu được thu thập từ 363 người trưởng thành trẻ tại Thành phố Hồ Chí Minh (ĐTB = 21,0; ĐLC = 2,1) bằng thiết kế khảo sát cắt ngang. Phân tích trung gian được thực hiện bằng PROCESS Macro Model 4 trên SPSS với bootstrapping 5.000 mẫu lặp lại và khoảng tin cậy 95%. Kết quả cho thấy căng thẳng công nghệ dự báo có ý nghĩa mệt mỏi mạng xã hội (a = 0,456; p < 0,001), và mệt mỏi mạng xã hội tiếp tục dự báo ý định tạm ngưng sử dụng (b = 0,580; p < 0,001). Hiệu ứng gián tiếp có ý nghĩa (0,264; 95% CI [0,194; 0,336]), chiếm 31,4% tổng hiệu ứng. Tuy nhiên, hiệu ứng trực tiếp vẫn còn ý nghĩa (c’ = 0,577; p < 0,001), cho thấy trung gian riêng phần. Như vậy, mệt mỏi mạng xã hội là cơ chế tâm lý quan trọng nhưng không phải duy nhất kết nối căng thẳng công nghệ với ý định tạm ngưng sử dụng. Kết quả gợi ý rằng ngoài mệt mỏi, các yếu tố khác như nhận thức về hiệu suất hay lo âu bảo mật cũng có thể góp phần vào quá trình này. Do đó, can thiệp nên đồng thời nhắm đến giảm mệt mỏi và củng cố chiến lược thích nghi công nghệ rộng hơn.
Nguyễn Thị Thanh Nga, Hoàng Lê Nguyệt Hằng, Bùi Anh Long, Lương Quang Vinh - Trường Đại học Luật Hà Nội
https://doi.org/10.66270/vap26.v14.n2.8
Nghiên cứu được tiến hành nhằm đánh giá thực trạng cảm nhận hạnh phúc của sinh viên trường Đại học Luật Hà Nội. Khảo sát trên 430 sinh viên trải từ năm nhất đến năm tư của bốn ngành đào tạo bao gồm: Luật chung; Ngôn ngữ Anh; Luật kinh tế; Luật thương mại quốc tế. Kết quả nghiên cứu cho thấy, mức độ cảm nhận hạnh phúc của sinh viên trường Đại học Luật Hà Nội ở mức khá với điểm trung bình = 3,34; độ lệch chuẩn = 0,22. Trong 6 mặt biểu hiện cảm nhận hạnh phúc của sinh viên có sự khác nhau, trong đó biểu hiện qua “Mục tiêu sống” cao nhất với ĐTB = 3,44; kế đến là các mặt: “Mối quan hệ tích cực với người khác” (ĐTB = 3,43); “Phát triển bản thân” (ĐTB = 3,40); “Làm chủ hoàn cảnh” (ĐTB = 3,38); “Tự chủ” (ĐTB = 3,23) và “Tự chấp nhận bản thân” (ĐTB = 3,20).
Bùi Thị Thùy Dương, Nguyễn Văn Lượt - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
https://doi.org/10.66270/vap26.v14.n2.7
Tại Việt Nam, Phật giáo có ảnh hưởng sâu rộng đến định hướng giá trị sống của người trẻ, song chủ đề này hiện vẫn chưa được nghiên cứu phổ biến. Nghiên cứu này nhằm so sánh mức độ gắn bó với Phật giáo và ý nghĩa cuộc sống giữa nhóm Phật giáo chính thức và không chính thức, đồng thời làm rõ mối liên hệ giữa hai yếu tố này. Dữ liệu được thu thập thông qua điều tra bảng hỏi trên 275 người trẻ từ 18 - 24 tuổi (độ tuổi trung bình là 20,5; ĐLC = 1,64), với 72% là nữ tại Việt Nam. Kết quả cho thấy nhóm Phật giáo chính thức có mức độ gắn bó với Phật giáo và hiện diện ý nghĩa cuộc sống vượt trội hơn so với nhóm không chính thức. Đặc biệt, gắn bó với Phật giáo nội tại là yếu tố dự báo tích cực cho cả sự hiện diện và tìm kiếm ý nghĩa cuộc sống.
Phí Công Mạnh - Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
https://doi.org/10.66270/vap26.v14.n2.6
Nghiên cứu này nhằm phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tìm được việc làm của sinh viên Trường Kinh tế - Đại học Công nghiệp Hà Nội. Các yếu tố được xác định thông qua kiểm định độ tin cậy Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA) và mô hình hồi quy Binary Logistic. Nghiên cứu tiến hành khảo sát 250 sinh viên đã tốt nghiệp trong giai đoạn 2022 - 2024 bằng bảng câu hỏi về tình hình tìm việc làm. Kết quả cho thấy các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tìm được việc làm gồm: kỹ năng cứng, kỹ năng mềm, khả năng làm việc, trình độ ngoại ngữ và kết quả học tập; trong đó kỹ năng cứng có tác động mạnh nhất. Từ kết quả nghiên cứu, một số nhóm giải pháp được đề xuất đối với nhà tuyển dụng, nhà trường và sinh viên nhằm nâng cao khả năng tìm được việc làm sau khi tốt nghiệp.
Phan Thị Cẩm Giang - Trường Đại học Quốc tế Sài Gòn
https://doi.org/10.66270/vap26.v14.n2.5
Bài viết tập trung phân tích các đặc tính đo lường của thang đo Kiệt sức trong vai trò làm cha mẹ (Parental Burnout Assessment - PBA) trên nhóm phụ huynh có con thuộc diện giáo dục đặc biệt tại Thành phố Hồ Chí Minh. Nghiên cứu được thực hiện trên 213 cha mẹ với 23 mục hỏi của thang đo PBA. Kết quả phân tích cho thấy thang đo có độ tin cậy đạt mức chấp nhận được, với hệ số Cronbach’s alpha dao động từ 0,70 đến 0,81. Các chỉ số KMO = 0,751 và kiểm định Bartlett có ý nghĩa thống kê (p < 0,001) cho thấy dữ liệu phù hợp để thực hiện phân tích nhân tố khám phá (EFA). Kết quả EFA trích xuất được bốn nhân tố với tổng phương sai giải thích đạt 64,7%; hệ số tải nhân tố dao động từ 0,513 đến 0,923. Các kết quả này bước đầu cho thấy cấu trúc bốn nhân tố của thang đo PBA phù hợp trên nhóm phụ huynh có con có nhu cầu giáo dục đặc biệt tại Việt Nam. Nghiên cứu đồng thời khẳng định PBA là công cụ có độ tin cậy và giá trị sử dụng trong đánh giá tình trạng kiệt sức của cha mẹ, góp phần hỗ trợ các nhà chuyên môn trong việc sàng lọc, đánh giá tâm lý và xây dựng các biện pháp hỗ trợ, can thiệp phù hợp đối với gia đình có trẻ có nhu cầu giáo dục đặc biệt.
Cao Xuân Liễu - Học viện Quản lý giáo dục
https://doi.org/10.66270/vap26.v14.n2.4
Nghiên cứu này nhằm khảo sát nhận định của sinh viên Học viện Quản lý giáo dục về khái niệm thương hiệu cá nhân, xác định các yếu tố được sinh viên đánh giá là quan trọng trong quá trình xây dựng thương hiệu cá nhân, đồng thời nhận diện những khó khăn mà sinh viên gặp phải. Nghiên cứu được thực hiện theo phương pháp định lượng, sử dụng bảng hỏi tự xây dựng với mẫu khảo sát gồm 146 sinh viên, thu thập dữ liệu trong giai đoạn từ tháng 3/2025 đến tháng 10/2025. Kết quả cho thấy sinh viên chủ yếu hiểu thương hiệu cá nhân theo trục uy tín, giá trị và danh tiếng trong tổ chức, trong khi các khía cạnh liên quan đến hiện diện truyền thông và sự ngưỡng mộ có vai trò thứ yếu và mức độ đồng thuận thấp hơn. Các yếu tố được sinh viên ưu tiên cao nhất trong xây dựng thương hiệu cá nhân là kỹ năng giao tiếp, tư cách đạo đức và năng lực chuyên môn hơn là hình ảnh hay sự hiện diện trên mạng xã hội. Về khó khăn, sinh viên gặp trở ngại chủ yếu ở việc thiếu kiến thức và định hướng, thiếu kỹ năng giao tiếp và năng lực truyền thông số, cùng với rào cản tâm lý liên quan đến lo ngại bị đánh giá tiêu cực. Kết quả nghiên cứu gợi ý sự cần thiết của các hoạt động hỗ trợ mang tính tâm lý - giáo dục trong nhà trường, tập trung vào định hướng, trang bị kỹ năng và phát triển năng lực nền tảng cho sinh viên.
Công Thị Hằng, Đào Minh Đức - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
https://doi.org/10.66270/vap26.v14.n2.3
Bài viết kiểm định độ tin cậy và hiệu lực cấu trúc của ba thang đo rối loạn lo âu DSM-5 trên học sinh THCS tại Việt Nam. Dữ liệu thu thập từ 433 học sinh THCS qua bảng hỏi tự báo cáo. Các thang đo được đánh giá thông qua hệ số Cronbach’s alpha, McDonald’s omega, độ tin cậy phân đôi, phân tích nhân tố khẳng định (CFA) và tương quan với DASS-21 nhằm xem xét hiệu lực hội tụ. Kết quả cho thấy các thang đo đều có độ tin cậy nội tại tốt, với các hệ số Cronbach’s alpha, McDonald’s omega và độ tin cậy phân đôi đạt mức phù hợp. Các thang đo có tương quan thuận và có ý nghĩa thống kê với nhau cũng như với các tiểu thang đo lo âu, trầm cảm và căng thẳng của DASS-21, qua đó cung cấp bằng chứng bước đầu về hiệu lực hội tụ. Tuy nhiên, kết quả CFA cho thấy mức độ phù hợp mô hình chưa thật sự tối ưu ở một số chỉ số như CFI, TLI và RMSEA, cho thấy hiệu lực cấu trúc của các thang đo vẫn cần tiếp tục được kiểm định trong các nghiên cứu tiếp theo. Kết quả nghiên cứu góp phần cung cấp thêm bằng chứng thực nghiệm về khả năng sử dụng các thang đo rối loạn lo âu theo DSM-5 trong nghiên cứu và sàng lọc ban đầu trên học sinh THCS tại Việt Nam.
Nguyễn Đức Sơn, Lê Minh Nguyệt, Nguyễn Thị Thanh Trà - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
https://doi.org/10.66270/vap26.v14.n2.2
Nghiên cứu này nhằm đánh giá thực trạng nhu cầu được giáo dục kỹ năng sống của học sinh. Nghiên cứu được khảo sát trên mẫu khách thể là 1106 học sinh đang học tại các trường trung học cơ sở, được phân bổ đều giữa ba địa bàn thành phố, nông thôn và vùng núi trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa. Kết quả cho thấy có 55,9% học sinh đạt mức tương đối thành thạo các kỹ năng khác nhau trong 101 kỹ năng đơn trị thuộc 15 nhóm kỹ năng sống được khảo sát; Hơn 80% có nhu cầu (trong đó có 42,4% nhu cầu cao), được nhà trường dạy các kỹ năng sống khác nhau, nhất là các kỹ năng gắn với nhiệm vụ của học sinh như các kỹ năng xã hội, kỹ năng nhận thức, học tập và phát triển bản thân. Các kỹ năng nền tảng và các kỹ năng kinh tế ít học sinh có nhu cầu được giáo dục hơn các nhóm kỹ năng khác. Thực trạng về mức độ kỹ năng sống và nhu cầu được giáo dục kỹ năng sống của học sinh là cơ sở, gợi ra nhiều định hướng trong việc nâng cao hiệu quả các biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh của nhà trường Trung học cơ sở.
Vũ Dũng - Học viện Khoa học xã hội
Nguyễn Thị Hoa Mai - Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới
https://doi.org/10.66270/vap26.v14.n2.1
Trong bối cảnh biến đổi xã hội và đa dạng hóa giá trị, xung đột giá trị ngày càng trở thành hiện tượng phổ biến và phức tạp trong đời sống cá nhân và xã hội. Bài viết nhằm làm rõ cơ sở lý luận của xung đột giá trị thông qua việc phân tích và tổng hợp các quan điểm kinh điển và đương đại trong giá trị học, tâm lý học xã hội và xã hội học. Kết quả cho thấy xung đột giá trị là một quá trình tâm lý, xã hội mang tính động, phát sinh từ sự không tương thích giữa các hệ giá trị, niềm tin và chuẩn mực, biểu hiện ở nhiều cấp độ từ cá nhân đến nhóm, tổ chức và cộng đồng. Bài viết đồng thời chỉ ra các nguyên nhân cốt lõi và các bước giải quyết xung đột giá trị theo hướng đối thoại và tích hợp, qua đó góp phần bổ sung khung lý luận và cung cấp cơ sở khoa học cho nghiên cứu và quản lý xung đột giá trị.