MỐI LIÊN HỆ GỮA HỖ TRỢ XÃ HỘI VÀ TRẦM CẢM CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN

Minh Thị Lâm - Bộ môn Tâm lý học, Trường Đại học Sài Gòn
Nguyễn Thị Ngọc Mai, Nguyễn Thị Thanh Trúc - Bộ môn Quản lý giáo dục, Trường Đại học Sài Gòn.

https://doi.org/10.66270/vap26.v14.n1.18

| PDF

Trầm cảm là một trong những vấn đề sức khỏe tâm thần phổ biến nhất. Trên thế giới, tỷ lệ trầm cảm ở sinh viên đại học đang có xu hướng gia tăng, các nghiên cứu đã đề cập đến các mức độ trầm cảm của sinh viên. Nghiên cứu này nhằm khảo sát mối quan hệ giữa hỗ trợ xã hội và trầm cảm của sinh viên Trường Đại học Sài Gòn. Để thực hiện được mục đích nghiên cứu trên, 525 sinh viên Đại học Sài Gòn tham gia trả lời các thang đo Trầm cảm và Hỗ trợ xã hội. Kết quả nghiên cứu cho thấy có 88,6% sinh viên bị trầm cảm ở mức từ nhẹ tới rất nặng. Có mối quan hệ giữa hỗ trợ xã hội và trầm cảm ở sinh viên và có khả năng dự báo cho mức độ trầm cảm ở sinh viên. Trong đó hỗ trợ từ gia đình là yếu tố có ý nghĩa trong mô hình hồi quy, thể hiện vai trò của nguồn hỗ trợ này đối với mức độ trầm cảm của sinh viên.

CÁC YẾU TỐ TÂM LÝ XÃ HỘI ẢNH HƯỞNG ĐẾN THÍCH ỨNG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN NĂM THỨ NHẤT

Trần Thị Thu Hằng - Học viện Phụ nữ Việt Nam

https://doi.org/10.66270/vap26.v14.n1.17

| PDF

Nghiên cứu nhằm phân tích các yếu tố tâm lý xã hội ảnh hưởng đến thích ứng học tập của sinh viên năm thứ nhất. Khảo sát được thực hiện trên 450 sinh viên năm thứ nhất tại Học viện Phụ nữ Việt Nam và Trường Đại học Công đoàn bằng bảng hỏi, phỏng vấn sâu và xử lý số liệu bằng SPSS 22.0. Kết quả cho thấy các yếu tố gia đình, nhóm bạn và sự hỗ trợ tâm lý từ nhà trường đều có mối tương quan thuận với thích ứng học tập, trong đó sự hỗ trợ từ nhà trường có ảnh hưởng mạnh nhất (β = 0,351). Kết quả gợi ý vai trò trung tâm của môi trường học đường trong việc hỗ trợ sinh viên năm thứ nhất thích ứng với học tập ở bậc đại học.

ĐỘNG LỰC HỌC TẬP Ở HỌC SINH TRUNG HỌC: THỰC TRẠNG VÀ SỰ KHÁC BIỆT THEO MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM NHÂN KHẨU HỌC

Trần Ngọc Sơn, Nguyễn Thị Anh Thư, Đặng Hà Thu, Trần Diệu Tú
Khoa Tâm lý học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn.

https://doi.org/10.66270/vap26.v14.n1.16

| PDF

Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá thực trạng động lực học tập ở học sinh trung học và phân tích mối liên hệ của nó với một số biến nhân khẩu học cơ bản. Mẫu nghiên cứu bao gồm 1.207 học sinh đang theo học tại bốn trường Trung học cơ sở và Trung học phổ thông trên địa bàn Hà Nội và Phú Thọ, với độ tuổi trung bình là 15,1; tỷ lệ nam - nữ tương đương nhau (50% nam, 50% nữ). Công cụ khảo sát chính là thang đo Động lực học tập phiên bản dành cho học sinh trung học (Academic Motivation Scale High School Version - AMS-HS-28) của Vallerand và cộng sự (1992), bao gồm ba tiểu thang: động lực bên trong, động lực bên ngoài và không động lực; bên cạnh các thông tin về giới tính, cấp học, kết quả học tập và thứ tự sinh. Kết quả phân tích chỉ ra rằng học sinh trung học có mức độ động lực bên trong và động lực bên ngoài ở mức cao, trong khi trạng thái không động lực được ghi nhận ở mức thấp. Các phân tích về sự khác biệt theo đặc điểm nhân khẩu học cho thấy: động lực bên ngoài có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê dựa trên giới tính, thứ tự sinh và kết quả học tập; động lực bên trong khác biệt theo cấp học và thứ tự sinh; trong khi trạng thái không động lực chịu ảnh hưởng bởi yếu tố giới tính và cấp học. Những phát hiện này cung cấp cơ sở quan trọng để hiểu rõ thực trạng của các dạng động lực học tập ở học sinh trung học và sự khác biệt của chúng giữa các nhóm học sinh. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số hàm ý cho nhà trường và gia đình trong việc xây dựng môi trường phù hợp nhằm thúc đẩy động lực học tập của học sinh.

VAI TRÒ CỦA CÁC CÔNG CỤ HỖ TRỢ KHÁM PHÁ CẢM XÚC HỌC SINH TRONG THAM VẤN HỌC ĐƯỜNG TẠI VIỆT NAM

Nguyễn Thị Hồng Xuân - Ngành Tâm lý học, Trường Đại học Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh (HUTECH)

https://doi.org/10.66270/vap26.v14.n1.15

| PDF

Bài viết làm rõ vai trò của các công cụ khám phá cảm xúc trong tham vấn học đường tại Việt Nam, nơi học sinh thường gặp rào cản văn hóa và tâm lý khi biểu đạt nội tâm. Thông qua phương pháp tổng quan lý thuyết, nghiên cứu tổng hợp các công trình trong và ngoài nước nhằm phân tích vai trò của các công cụ trong việc hình thành liên minh tham vấn và nâng cao hiệu quả can thiệp. Kết quả cho thấy các công cụ này (gồm 5 nhóm chính) là phương tiện trung gian thiết yếu, giúp giảm phòng vệ, cụ thể hóa trải nghiệm cảm xúc và nâng cao tính chuyên nghiệp và hiệu quả của tham vấn học đường tại Việt Nam.

CĂNG THẲNG CỦA CHA MẸ CÓ CON MẮC RỐI LOẠN PHÁT TRIỂN VÀ TỔNG QUAN VỀ CÁC QUAN ĐIỂM HỖ TRỢ XÃ HỘI

Trần Văn Hô

https://doi.org/10.66270/vap26.v14.n1.14

| PDF

Căng thẳng của cha mẹ có con mắc rối loạn phát triển là một vấn đề tâm lý - xã hội đáng quan tâm do gánh nặng chăm sóc kéo dài, các khó khăn hành vi của trẻ và sự kỳ thị xã hội. Bài viết này là một nghiên cứu tổng quan lý thuyết nhằm hệ thống hóa các nghiên cứu quốc tế về mức độ, nguyên nhân và hệ quả của căng thẳng ở nhóm cha mẹ này. Đồng thời, bài viết phân tích các quan điểm và cách tiếp cận về hỗ trợ xã hội, bao gồm cách định nghĩa, đo lường và vai trò của hỗ trợ xã hội như một yếu tố dự báo, trung gian hoặc điều tiết trong mối quan hệ với căng thẳng của cha mẹ. Kết quả tổng hợp cho thấy hỗ trợ xã hội có ý nghĩa tích cực trong việc giảm căng thẳng và nâng cao khả năng thích ứng của gia đình. Tuy nhiên, bằng chứng thực nghiệm còn thiếu hụt tại các quốc gia đang phát triển. Bài viết gợi mở hướng nghiên cứu và can thiệp nhạy cảm văn hóa nhằm hỗ trợ gia đình có con rối loạn phát triển.

Ý ĐỊNH KHÔNG SINH CON Ở PHỤ NỮ HIỆN NAY: THỰC TRẠNG VÀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG

Phạm Thu Trang, Nguyễn Thị Ánh Tuyết, Nguyễn Minh Nhi, Nguyễn Văn Lượt
Khoa Tâm lý học, Trường Đại học Khoa học và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội.

https://doi.org/10.66270/vap26.v14.n1.13

| PDF

Trong bối cảnh tỷ lệ sinh giảm hiện đang là vấn đề nan giải và cấp thiết của nhiều quốc gia trên thế giới, ý định không sinh con của phụ nữ đang trở thành một hiện tượng giành được sự quan tâm đặc biệt trên thế giới và ở Việt Nam. Bài viết này tổng quan tường thuật 46 nghiên cứu xuất bản từ năm 2010 - 2025 về ý định không sinh con của phụ nữ trưởng thành nhằm chỉ ra thực trạng và các yếu tố tác động đến ý định này. Các bằng chứng hiện có cho thấy xu hướng gia tăng ý định không sinh con ở một số nhóm phụ nữ tại Việt Nam và trên thế giới; các yếu tố cá nhân, gia đình, cộng đồng và chính sách xã hội có ảnh hưởng đến ý định không sinh con của phụ nữ. Bài viết hệ thống hóa các yếu tố trọng tâm tác động đến ý định không sinh con của phụ nữ đã được nghiên cứu, đồng thời chỉ ra khoảng trống và đề xuất hướng nghiên cứu dưới tiếp cận tâm lý học về chủ đề này trong bối cảnh Việt Nam.

THỰC TRẠNG CẢM XÚC ÂM TÍNH CỦA CHA MẸ CÓ CON RỐI LOẠN PHỔ TỰ KỶ KHU VỰC ĐÔNG NAM BỘ

Nguyễn Thị Thu Huyền - Trung tâm Nghiên cứu, ứng dụng Tâm lý Giáo dục An Bình Dương

https://doi.org/10.66270/vap26.v14.n1.12

| PDF

Nghiên cứu này hướng đến tìm hiểu thực trạng cảm xúc âm tính của cha mẹ có con rối loạn phổ tự kỷ. Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ 302 cha mẹ có con rối loạn phổ tự kỷ tại các trung tâm can thiệp sớm, trường chuyên biệt tại khu vực Đông Nam Bộ. Kết quả nghiên cứu cho thấy các nhóm tác nhân chính gây ra cảm xúc âm tính của cha mẹ có con rối loạn phổ tự kỷ bao gồm: đặc điểm và hành vi của trẻ, tâm lý và kỳ vọng của cha mẹ, mối quan hệ trong gia đình và môi trường xã hội. Cảm xúc âm tính của cha mẹ có con rối loạn phổ tự kỷ trong mẫu nghiên cứu cho thấy có cường độ ở mức khá cao, nổi trội nhất là cảm xúc lo lắng và buồn bã, trong khi đó cảm xúc tức giận có phần thấp hơn. Kết quả kiểm định so sánh cũng cho thấy rằng mức độ lo lắng của mẹ cao hơn cha, cường độ cảm xúc âm tính nói chung ở những cha mẹ có trẻ cần được hỗ trợ ở mức “rất nhiều” cao hơn hẳn những cha mẹ có trẻ chỉ cần hỗ trợ ở mức “vừa phải” và “nhiều”. Cảm xúc âm tính của cha mẹ có con rối loạn phổ tự kỷ cũng cho thấy mối tương quan thuận với độ tuổi của trẻ. Những kết quả này là cơ sở để đề xuất các biện pháp hỗ trợ cha mẹ có con rối loạn phổ tự kỷ ứng phó với cảm xúc âm tính.

THÁI ĐỘ ĐỐI VỚI VIỆC CHĂM SÓC NGƯỜI CAO TUỔI CỦA THẾ HỆ GEN Z HIỆN NAY

Nguyễn Việt Thành - Trường Tiểu học, Trung học cơ sở và Trung học phổ thông FPT Bắc Giang, Trường Đại học FPT
Nguyễn Thị Nhân Ái - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

https://doi.org/10.66270/vap26.v14.n1.11

| PDF

Nghiên cứu tập trung vào tìm hiểu mức độ thái độ đối với việc chăm sóc người cao tuổi và các yếu tố tác động tới thái độ đối với việc chăm sóc người cao tuổi của thế hệ Gen Z tại Việt Nam. Tiến hành khảo sát trên 413 khách thể (độ tuổi từ 16 đến 31) tại tỉnh Bắc Kạn. Kết quả chỉ ra rằng thế hệ Gen Z có thái độ khá tích cực đối với việc chăm sóc người cao tuổi. Các yếu tố tác động tới thái độ này bao gồm: Giáo dục, Xu hướng, Tài chính và Sự gắn bó. Trong đó, yếu tố Giáo dục có tác động mạnh mẽ nhất tới thái độ này. Nghiên cứu cũng chỉ ra Gen Z có mức độ hiểu biết kém về kiến thức chăm sóc người cao tuổi. Nữ giới có thái độ đối với việc chăm sóc người cao tuổi tích cực hơn nam giới. Giữa các nhóm thu nhập khác nhau có sự khác biệt về thái độ đối với việc chăm sóc người cao tuổi. Không tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về mức độ thái độ giữa các kiểu gia đình, thứ tự sinh, nghề nghiệp, địa bàn sinh sống, kinh nghiệm chăm sóc

CÁC NGHIÊN CỨU VỀ ĐỘNG CƠ HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ TỪ GÓC ĐỘ TÂM LÝ HỌC HOẠT ĐỘNG - TỔNG HỢP VÀ PHÂN TÍCH

Đỗ Thị Vân -Trường Đại học Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh.
Vũ Thị Khánh Linh - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.

https://doi.org/10.66270/vap26.v14.n1.10

| PDF

Trong bối cảnh giáo dục đại học hướng tới bảo đảm công bằng và phát triển bền vững, việc nghiên cứu động cơ học tập của sinh viên người dân tộc thiểu số giữ vai trò quan trọng trong nâng cao chất lượng đào tạo và hiệu quả chính sách giáo dục. Bài viết tổng quan và phân tích có hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về động cơ học tập của nhóm sinh viên này trên cơ sở tiếp cận tâm lý học hoạt động. Thông qua nghiên cứu tài liệu, bài viết làm rõ khái niệm, cấu trúc và các biểu hiện cơ bản của động cơ học tập; đồng thời phân tích thực trạng và những yếu tố chi phối động cơ học tập của sinh viên người dân tộc thiểu số. Kết quả tổng hợp cho thấy động cơ học tập là một cấu trúc tâm lý động, chịu sự tác động đan xen của các yếu tố cá nhân, gia đình, nhà trường, bối cảnh văn hóa - xã hội cũng như định hướng nghề nghiệp và thị trường lao động.

THÁI ĐỘ ĐỐI VỚI VIỆC SỬ DỤNG TRÍ TUỆ NHÂN TẠO TRONG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN

Nguyễn Hữu Phúc - Trường Đại học Hùng Vương Thành phố Hồ Chí Minh
Nguyễn Thị Huệ - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Cao Thị Thùy Trang - Trường Đại học Quốc tế Sài Gòn.

https://doi.org/10.66270/vap26.v14.n1.9

| PDF

Bài viết phân tích về thái độ của sinh viên đối với việc sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong học tập dưới góc nhìn tâm lý học, dựa trên phương pháp nghiên cứu tài liệu. Kết quả cho thấy AI tác động hai mặt đến giáo dục đại học: vừa hỗ trợ cá nhân hóa học tập, tăng hiệu quả và mở rộng tiếp cận tri thức, vừa tiềm ẩn nguy cơ lệ thuộc công nghệ, suy giảm tư duy phản biện và vi phạm liêm chính học thuật. Bài báo xác định thái độ là một cấu trúc tâm lý gồm nhận thức, cảm xúc,  hành vi, giữ vai trò trung gian định hướng ý định và cách thức sử dụng AI của sinh viên. Đồng thời, các yếu tố ảnh hưởng đến thái độ được hệ thống theo ba nhóm: (1) cá nhân sinh viên, (2) môi trường giáo dục, và (3) bối cảnh xã hội. Trên cơ sở đó, bài báo đề xuất định hướng giáo dục nhằm hình thành thái độ sử dụng AI hiệu quả, có kiểm soát và có trách nhiệm trong giáo dục đại học.

THỰC TRẠNG NĂNG LỰC VƯỢT KHÓ TRONG HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ VÙNG TÂY BẮC

Lò Thị Vân - Trường Đại học Tây Bắc

https://doi.org/10.66270/vap26.v14.n1.8

| PDF

Bài viết nghiên cứu thực trạng năng lực vượt khó trong hoạt động học tập của sinh viên người dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc trong bối cảnh đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đại học hiện nay. Nghiên cứu được thực hiện trên 288 sinh viên đang theo học tại Trường Đại học Tây Bắc, sử dụng phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi kết hợp phỏng vấn sâu. Năng lực vượt khó được xem xét trên ba bình diện chính: hoạt động học lý thuyết trên lớp, hoạt động tự học và hoạt động thực hành, thực tập. Kết quả nghiên cứu cho thấy năng lực vượt khó trong học tập của sinh viên nhìn chung đạt mức trung bình; sinh viên thể hiện khả năng thích nghi tương đối tốt trong các tình huống học tập cụ thể nhưng còn hạn chế trong việc lập kế hoạch, tự điều chỉnh chiến lược học tập, duy trì động lực nội tại và chủ động cải thiện năng lực chuyên môn, đặc biệt trong bối cảnh thực hành, thực tập.

KỸ NĂNG QUẢN LÝ CẢM XÚC - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN

Cao Thị Thùy Trang - Trường Đại học Tư thục Quốc tế Sài Gòn
Nguyễn Thị Huệ - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Nguyễn Hữu Phúc - Trường Đại học Hùng Vương Thành phố Hồ Chí Minh

https://doi.org/10.66270/vap26.v14.n1.7

 

| PDF

Bài viết tổng quan và phân tích các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước nhằm làm rõ khái niệm, bản chất tâm lý, cấu trúc, các yếu tố ảnh hưởng và phương pháp đo lường kỹ năng quản lý cảm xúc dưới góc nhìn tâm lý học. Kết quả cho thấy kỹ năng quản lý cảm xúc là một năng lực tâm lý phức hợp, mang tính phát triển và phụ thuộc bối cảnh, phản ánh khả năng cá nhân nhận diện, kiểm soát, điều chỉnh và sử dụng cảm xúc một cách có ý thức và thích nghi. Trên cơ sở kế thừa các mô hình lý thuyết và bằng chứng thực nghiệm, bài báo xác định cấu trúc kỹ năng quản lý cảm xúc gồm bốn thành phần cốt lõi và chỉ ra vai trò của các yếu tố ảnh hưởng như căng thẳng tâm lý, hài lòng hôn nhân, phong cách gắn bó, môi trường sống và hỗ trợ xã hội. 

CẢM NHẬN HẠNH PHÚC Ở TRƯỜNG HỌC CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC

Lê Thị Thu Hà - Trường Đại học Hồng Đức.
Nguyễn Thị Hiền - Trường Mầm non Đông Lĩnh, phường Đông Tiến, tỉnh Thanh Hóa.

https://doi.org/10.66270/vap26.v14.n1.6

| PDF

Nghiên cứu này nhằm khảo sát thực trạng cảm nhận hạnh phúc ở trường học của sinh viên Trường Đại học Hồng Đức trên cơ sở tiếp cận của tâm lý học tích cực. Nghiên cứu được tiến hành bằng phương pháp khảo sát bảng hỏi trên 719 sinh viên, sử dụng thang đo PERMA đã được điều chỉnh và thích nghi cho bối cảnh sinh viên Việt Nam. Các phương pháp phân tích thống kê mô tả và suy luận được sử dụng để đánh giá mức độ cảm nhận hạnh phúc cũng như sự khác biệt theo giới tính. Kết quả nghiên cứu cho thấy, cảm nhận hạnh phúc ở trường học của sinh viên đạt mức khá. Trong năm thành phần PERMA, Ý nghĩa và Mối quan hệ là những phương diện nổi trội nhất, trong khi Sự gắn kết và Cảm giác thành tựu có điểm trung bình thấp hơn. Phân tích theo lát cắt giới tính cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa sinh viên nam và sinh viên nữ trong cảm nhận hạnh phúc ở trường học cũng như ở các thành phần cấu thành. Kết quả nghiên cứu góp phần cung cấp bằng chứng thực nghiệm về cảm nhận hạnh phúc ở trường học của sinh viên đại học, đồng thời gợi ý rằng việc nâng cao hạnh phúc học đường cần chú trọng nhiều hơn đến việc tăng cường sự tham gia chủ động của sinh viên và hỗ trợ họ đạt được các thành tựu học tập có ý nghĩa.

TƯƠNG QUAN GIỮA SỬ DỤNG INTERNET CÓ VẤN ĐỀ VÀ TRẦM CẢM, LO ÂU, STRESS CỦA SINH VIÊN HỌC VIỆN PHỤ NỮ VIỆT NAM

Phan Diệu Mai  - Học viện Phụ nữ Việt Nam

https://doi.org/10.66270/vap26.v14.n1.5

| PDF

Sử dụng internet có vấn đề đang nổi lên như một vấn đề đáng quan tâm ở sinh viên trong bối cảnh sử dụng internet ngày càng phổ biến cho học tập, giao tiếp và giải trí, kéo theo nguy cơ gia tăng các khó khăn về sức khỏe tâm thần. Nghiên cứu này được thực hiện trên 120 sinh viên Học viện Phụ nữ Việt Nam nhằm khảo sát mức độ sử dụng internet có vấn đề, đồng thời phân tích mối liên hệ giữa sử dụng internet có vấn đề với các biểu hiện trầm cảm, lo âu và stress. Kết quả cho thấy mức sử dụng internet có vấn đề của sinh viên Học viện ở mức nghiện vừa. Phân tích tương quan và hồi quy cho thấy sử dụng internet có vấn đề có mối liên hệ thuận và đóng vai trò dự báo có ý nghĩa đối với trầm cảm, lo âu, stress. Từ đó nhấn mạnh vai trò của sử dụng internet có vấn đề như một yếu tố nguy cơ đối với sức khỏe tâm thần, gợi ý sự cần thiết của các chương trình phòng ngừa và can thiệp tâm lý trong môi trường đại học.

THỰC TRẠNG VÀ CÁC RÀO CẢN TRONG DẠY - HỌC Y ĐỨC CHO SINH VIÊN ĐIỀU DƯỠNG TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG

Hà Thị Huyền, Nguyễn Thị Như Mai, Đỗ Quang Tuyển - Trường Đại học Thăng Long.
Nguyễn Hoàng Long - Trường Đại học VinUni.

https://doi.org/10.66270/vap26.v14.n1.4

| PDF

Nghiên cứu nhằm mô tả thực trạng dạy - học y đức và phân tích các rào cản trong đào tạo y đức cho sinh viên điều dưỡng tại Trường Đại học Thăng Long năm học 2024 - 2025. Thiết kế mô tả cắt ngang kết hợp định lượng và định tính được sử dụng với mẫu gồm 162 sinh viên điều dưỡng (n = 162) và 2 nhóm thảo luận tập trung với sinh viên; giảng viên và cán bộ quản lý đào tạo. Dữ liệu được thu thập bằng bảng hỏi khảo sát và hướng dẫn thảo luận bán cấu trúc; phân tích bằng thống kê mô tả và phân tích nội dung theo chủ đề. Kết quả cho thấy hoạt động dạy - học y đức đạt mức trung bình khá (3,35 ± 0,80). Mục tiêu học phần được đánh giá rõ ràng (4,12 ± 0,65), phương pháp giảng dạy tương đối đa dạng (3,85 ± 0,72) nhưng thời lượng học và tài liệu học tập còn hạn chế (2,68 ± 0,94 và 2,94 ± 0,88). Các rào cản chính gồm thời lượng lên lớp chưa đủ, phương pháp giảng dạy truyền thống, khó khăn trong đánh giá năng lực thực hành và khoảng cách giữa lý thuyết với trải nghiệm lâm sàng. Nghiên cứu khuyến nghị đổi mới phương pháp dạy - học, cải tiến đánh giá và tăng cường học tập trải nghiệm nhằm nâng cao hiệu quả đào tạo y đức cho sinh viên điều dưỡng.

MỐI QUAN HỆ GIỮA HỖ TRỢ XÃ HỘI VÀ SỰ AN LẠC TINH THẦN CỦA PHỤ NỮ THỰC HIỆN THỤ TINH TRONG ỐNG NGHIỆM: VAI TRÒ TRUNG GIAN CỦA LÒNG TỰ TRỌNG

Huỳnh Võ Tiến - Bệnh viện Quốc tế Phương Châu, Cần Thơ
Ngô Xuân Điệp - Khoa Tâm lý học, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hồ Chí Minh.

https://doi.org/10.66270/vap26.v14.n1.3

| PDF

Các yếu tố liên quan đến sức khỏe tinh thần ở nhóm phụ nữ thực hiện thụ tinh trong ống nghiệm tại Việt Nam vẫn chưa được tìm hiểu một cách toàn diện. Nghiên cứu này tập trung khám phá mối quan hệ giữa hỗ trợ xã hội và sự an lạc tinh thần của những phụ nữ thực hiện thụ tinh trong ống nghiệm, cũng như vai trò trung gian của lòng tự trọng. Nghiên cứu được thực hiện trên 142 khách thể bằng phương pháp khảo sát cắt ngang, dữ liệu được phân tích sử dụng phần mềm R Studio. Kết quả cho thấy hỗ trợ xã hội không có tác động trực tiếp đến sự an lạc tinh thần, bên cạnh đó, lòng tự trọng đóng vai trò trung gian toàn phần trong mối liên hệ kể trên. Những thảo luận và kiến nghị rút ra từ nghiên cứu đã được đề xuất, cũng như các giới hạn và hướng đi nghiên cứu trong tương lai cũng đã được khuyến nghị.

HỖ TRỢ TÂM LÝ CHO NGƯỜI DÂN TỈNH QUẢNG NINH SAU THIÊN TAI

Đoàn Thị Thanh Huyền - Học viện Phụ nữ Việt Nam

https://doi.org/10.66270/vap26.v14.n1.2

| PDF

Thiên tai thường gây ra những tác động tiêu cực sâu sắc đối với đời sống tâm lý và sức khỏe tinh thần của người dân, làm gia tăng nguy cơ xuất hiện các trạng thái căng thẳng, lo âu và sang chấn tâm lý. Trong bối cảnh đó, việc triển khai các hoạt động hỗ trợ tâm lý sau thiên tai có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, góp phần giúp người dân ổn định tinh thần và phục hồi khả năng thích ứng với cuộc sống. Bài viết tập trung phân tích các hoạt động hỗ trợ tâm lý cho người dân tỉnh Quảng Ninh sau thiên tai, thông qua trường hợp cơn bão số 3, năm 2024 (bão Yagi). Nghiên cứu được thực hiện trên cơ sở tổng hợp, phân tích các tài liệu liên quan kết hợp với khảo sát thực tiễn tại một số địa bàn chịu ảnh hưởng nặng nề bởi bão. Kết quả nghiên cứu cho thấy các hoạt động hỗ trợ tâm lý đã được triển khai và bước đầu mang lại hiệu quả nhất định. Tuy nhiên, hoạt động hỗ trợ tâm lý tại cộng đồng vẫn còn tồn tại những hạn chế liên quan đến nguồn nhân lực, khả năng tiếp cận dịch vụ và sự phối hợp liên ngành. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số kiến nghị nhằm góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động hỗ trợ tâm lý cho người dân sau thiên tai trong thời gian tới.

THỰC TRẠNG THÁI ĐỘ ĐỐI VỚI VIỆC SỬ DỤNG TRÍ TUỆ NHÂN TẠO TRONG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

Nguyễn Thị Thanh Nga - Trường Đại học Luật Hà Nội
Lê Thị Thanh Thủy - Học viện Thanh thiếu niên Việt Nam

https://doi.org/10.66270/vap26.v14.n1.1

| PDF

Nghiên cứu được thực hiện trên 481 sinh viên Trường Đại học Luật Hà Nội nhằm làm rõ thực trạng thái độ đối với việc sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong học tập. Kết quả cho thấy thái độ của sinh viên được biểu hiện qua ba mặt: nhận thức, cảm xúc và hành vi. Nhìn chung, sinh viên có thái độ tích cực đối với việc sử dụng AI trong học tập với ĐTB chung là 3,84; ĐLC = 0,42, trong đó nhận thức có mức độ tích cực cao nhất với ĐTB = 3,94; ĐLC = 0,31, biểu hiện ở hành vi và cảm xúc tích cực nhưng thấp hơn với ĐTB lần lượt là 3,80 và 3,78. Bài viết cũng phân tích một số khác biệt theo năm học, giới tính và GPA.